Sửa đổi lối làm việc
Sửa đổi lối làm việc được Bác viết và xuất bản vào năm 1947, giữa lúc chiến dịch Thu Đông đang diễn ra. Đảng ta tuy đã lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi song chính quyền non trẻ mới thành lập, cán bộ và tổ chức của ta còn có nhiều vấn đề phải giải quyết.
Khi nghiên cứu về sách của Bác, không thể không nhắc tới khoảng thời gian viết vì đó là hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Như nhà văn Tiến sĩ gần đây khi viết thì cố tình giản dị hoá, suồng sã hoá cái văn phong, thành thử mất đi cái tính trạng trọng cần phải có khi nói về Bác. Song bản thân mình lại không muốn sa đà vào phân tích hoàn cảnh đất nước ở thời điểm đó, bởi lẽ người biết thì đã biết rồi và người không biết thì cũng rất khó để đặt mình mình vào những giây phút khó khăn của lịch sử. Vậy nên ta hẵng tạm thời cho rằng Bác vừa chỉ viết những điều đó hôm qua và xuất bản ngay hôm nay. Đồng thời cũng cần thẳng thắn thừa nhận hoàn cảnh ngày hôm nay đã khác mà nhìn lại những đánh giá hôm qua vậy.
Trước hết nói về chuyện học, Bác nói rằng cán bộ, đảng viên ta lắm công nhiều việc mà xao nhãng đi chuyện học tập. Không chủ động tìm tòi, học hỏi về chính trị, hoặc chuyên môn. Con người ta phải học, học nữa, học mãi. Không học thì làm sao mà tiến bộ, lãnh đạo được cách mạng. Việc học cần phải được tổ chức quy cũ không thua kém gì các công việc khác, phải có người chỉ đạo, giao nhiệm vụ, đề ra kế hoạch, thời gian thực hiện. Việc học bao gồm nghiên cứu tài liệu và thảo luận. Tài liệu là các văn bản, nghị quyết của trung ương. Tài liệu không đúng thì như đi trong rừng không có lối, cứ mày mò rồi đi chung quanh thì không có mấy tiến lên. Học mà không thảo luận, trao đổi nội dung học thì như dòng nước trôi tuột đi không đọng lại.
Về phê bình và tự phê bình, Bác nói ta phê bình là để sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Phê bình phải chú tâm vào phê bình việc làm chứ không phải phê bình con người. Phê bình phải nêu rõ được ưu và khuyết điểm của việc làm, chỉ ra cái việc nó mắc bệnh gì để mà chữa.
Một là bệnh chủ quan, là không soi xét kỹ mọi bề mà ỷ mình đã biết, đã rõ. Như vậy là không rõ lý luận. Lý luận là gì, là đem các thực tế, lịch sử trong kinh nghiệm ra mà soi xét, so sánh kỹ lưỡng, rồi tổng kết lại thành kết luận. Rồi lại mang kết luận đó mà đi chứng minh, kiểm nghiệm trong thực tế. Khi gặp vấn đề phải đặt ra được câu hỏi rằng: vì sao có vấn đề này? Xử lý như thế này thì kết quả sẽ ra sao? Lý luận thực tiễn nào củng cố cho cách nào đó. Những việc đã thành công, thì chỉ báo cáo, kết luận, song lại không nghiên cứu sâu sắc là tại làm sao nó thành công. Thành thử khi mang nó sang môi trường khác thì không phát triển tiếp được
Hai là bệnh hẹp hòi, là bênh về mối quan hệ giữa người với người. Bệnh hẹp hòi nên viêc gì cũng ôm lấy hết, mà ôm lấy thì cố nhiên không làm nổi, dẫn đến hỏng việc. Khi có việc gì, lãnh đạo phải làm trước, song lại ưu tiên giúp đỡ quần chúng hoàn thành việc đó.
Nếu nói ta không dân chủ, thì ta khó chịu. Nhưng nếu tự soi xét lấy thì có thật như thế không. Đối với lãnh đạo, cán bộ, người ta ta có ý kiến cũng không dám nói, không dám phê bình, thành thử cấp trên cấp dưới, cán bộ với quần chứng cách biệt nhau. Dẫn tới tình trạng bên trong thì im tiếng mà bên ngoài thì nhiều mồm. Cái lẽ giản đơn là người ta đã có uất ức, bất mãn trong người thì lời nói có hay đến đâu cũng khó lọt. Phải để họ tháo cái uất ức bất mãn đó ra thì lời hay ý đẹp mới đọng lại. Vậy cho nên người làm việc và nhất là người lãnh đạo thì tuyệt nhiên không được mắc bệnh hẹp hòi.
Thứ ba là bệnh cá nhân, bệnh về cách nói và cách làm. Mỗi khi làm một việc, phải đặt vấn đề mang tính nguyên tắc rằng việc này vì ai mà làm, đối với ai mà phụ trách. Nếu không rõ ràng về lý do mình phải làm một công việc, khác gì bịt mắt bắt dê, làm việc trong đui mù. Tư tưởng không thông vác bình tông cũng nặng. Nếu không biết việc mình làm phải báo cáo, chịu trách nhiệm với ai, thì việc làm không ai đánh giá, nhận xét, phê bình.
Làm việc phải suy nghĩ chín chắn, so sánh kỹ càng, tránh hôm nay thế này, mai thế kia làm cho quần chúng hoang mang. Việc làm của cán bộ phải thật chất, tuỳ từng nhóm nhân dân, quần chúng mà thực hiện. Ai đời lại đem kinh tế học giảng cho phụ nữ thượng du.
Mỗi khi giải quyết vấn đề, phải thiết thực và có kế hoạch kỹ lưỡng. Cán bộ ta khai hội hay rông dài, không thiết thực, khai hội nhiều lần như một, từ tình hình Đông Dương đến tình hình thế giới, từ mô hình tỉnh này đến mô hình tỉnh kia, toàn chuyện ở đâu đâu. Còn chuyện công việc thiết thực trong tỉnh, trong xã, trong đơn vị thì không động đến. Gặp quần chúng thì không hỏi han, không điều tra, không tuyên truyền, mà có muốn hỏi cũng không biết hỏi gì. Thành thử nhân dân có biết gì đâu mà thảo luận. Đây là biểu hiện của xa rời quần chúng, chỉ có cán bộ đóng cửa mà làm. Cán bộ xa rời quần chúng thì không biết nhìn từ dưới lên, ra quyết định và quy định chỉ có kinh nghiệm một chiều. Đặc điểm của quần chúng là so sánh, so sánh chuyện bây giờ và chuyện đã qua, so sánh từng việc và so sánh toàn bộ phận.
Một số người có bệnh cá nhân, có việc gì không phê bình trước mặt mà lại để sau lưng. Khi khai hội thì không nói, khai hội rồi mới nói, không bao giờ đề nghị với Đảng chuyện gì nhưng lại nói xì xầm bên ngoài. Không tôn trọng, không làm theo nguyên tắc sinh hoạt Đảng. Khi phê bình thì không phải vì công việc mà chỉ vì công kích cá nhân. Khi bị phê bình thì cãi bướng, tiểu khí.
Nói về thành phần trong Đảng, có những hạng người có mục đích khác nên mới xin vào Đảng. Bác nói rằng, đối với họ ta cần có thái độ khoan dung. Dù sao họ cũng tin Đảng ta, tìm đến với ta, đó cũng là một điều tốt. Ngoài lợi ích của dân tộc, tổ quốc, Đảng không có lợi ích gì khác. Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân ra sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng, là tính Đảng. Đảng hoan nghênh các lực lượng chính trị có tính xây dựng. Một khi họ đã vào Đảng thì Đảng phải có nhiệm vụ giáo dục, cảm hoá họ. Trong quá trình phát triển của cách mạng, lực lượng cách mạng trong Đảng ta lớn lên, trưởng thành, kết nạp thêm nhiều đồng chí. Song Đảng cũng không nằm ngoài xã hội, có người tốt, người xấu, đó là chuyện bình thường.
Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong bình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen... Vết tích xấu xa nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng.
Vậy nên, lối làm việc của ta phải sửa đổi, làm việc phải có lý luận. Kém lý luận thì nghĩ sao quyết vậy, không biết soi xét nhận rõ điều kiện khách quan, xử trí cho khéo. Nhiều người có tí kinh nghiệm mà khinh lý luận, nhưng kinh nghiệm thì chỉ thiên về một mặt. Xem nhiều, đọc nhiều mà không biết áp dụng thì là chưa biết lý luận, lý luận phải áp dụng được vào thực tiễn.
Nhìn nhận những gì Bác dạy, ta thấy nhiều vấn đề vẫn có ý nghĩa y nguyên cho tới ngày hôm nay. Qua nhiều năm đấu tranh cách mạng, cán bộ và dân dân ta đã sửa đổi được nhiều khuyết điểm, song sự nghiệp cách mạng còn dài, ta phải càng phấn đấu hơn.
Ví như Bác nói về việc nay thế này, mai thế kia trong việc làm của chính quyền, cán bộ. Tôi thấy còn phải trao đổi thêm trong giai đoạn hiện nay.
Tri thức tích luỹ qua nhiều thế hệ tới nay đã đẩy sự phát triển khoa học công nghệ trong thực tại tới giới hạn mới, đồng thời cũng bật tung những mâu thuẫn trong sản xuất và xã hội. Ví như Mỹ là một nước tư bản luôn thúc đẩy tư hữu và tài sản tư nhân, đã viện dẫn những vấn đề về an ninh và xã hội để chặn sự ra mắt của các mô hình ngôn ngữ lớn mới. Liệu đây có phải là một dấu hiệu của sự đề phòng, thậm chí là run sợ của xã hội trước những điều ta chưa tỏ tường?
Tôi có đọc một số phân tích, nghiên cứu cho rằng cột sống người hiện đại đau nhiều hơn là do các công việc lao động đã chuyển từ lao động thể chất sang công việc văn phòng quá nhanh, gene của con người chưa tiến hoá kịp với những thay đổi lớn lao như vậy. Chỉ trong vòng vài nghìn năm, xã hội loài người đã phát triển qua nhiều hình thái lao động sản xuất, trong khi tiến trình lịch sử tiến hoá của chính giống loài chúng ta có tới hàng triệu năm. Vì vậy, các phương thức lao động sản xuất mới đã vượt xa hay nói cách khác là giống loại chúng ta chưa phát triển về thể chất, sinh học đủ nhanh như phát triển trí thức, tinh thần.
Dẫn luận từ đó, có lẽ chính xã hội loài người hiện cũng chưa phát triển đủ nhanh và theo kịp những gì chính chúng ta đang tạo ra, hay nói đúng hơn là sản phẩm của toàn xã hội. Các mô hình ngôn ngữ lớn dù được các công ty công nghệ, tập đoàn khổng lồ nghiên cứu ra, song chính xã hội này đã thúc đẩy nó vươn mình cực hạn trong vài năm qua. Vật cực tất phản, các dấu hiệu về lòng tin xã hội, tin giả, sự lạm dụng cảm xúc, sự chú ý của chính con người để kiếm tiền đã gieo mầm hoặc làm bộc phát nhanh hơn các rạn nứt trong xã hội hiện đại.
Vì vậy, Nhà nước với vai trò là lực lượng lãnh đạo và tổ chức xã hội cũng phải liên tục thay đổi, áp dụng những phương thức tổ chức, quản lý mới. Những việc này trước nay chưa hề có và cũng rất mới ở hiện tại, tương lai chưa chắc đã gặp, không khỏi việc vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Như đồng chí Tổng Bí thư nói: "Vừa chạy vừa xếp hàng". Quản trị và tổ chức xã hội ngày nay có lẽ giống như sự phát triển phần mềm, cố nhiên làm sao phát hành được phiên bản mới, có thêm chức năng, chấp nhận tồn tại một số lỗi và sửa nó vào phiên bản cập nhật tiếp theo. Nếu trông chờ vào một phiên bản hoàn thiện hoàn toàn rồi mới phát hành, có lẽ chính những Facebook, Youtube, Google, ChatGPT sẽ không thể xuất hiện trước công chúng và làm thay đổi xã hội và nền kinh tế. Nếu đứng từ góc nhìn này mà tuyên truyền với nhân dân, khuyến khích nhân dân như là những "tester" thông báo liên tục để sửa lỗi cho hệ thống. Được như vậy thì tôi rất mừng mà rất tin rằng xã hội chúng ta sẽ càng ngày càng tốt lên mà chính tôi cũng có cơ hội được phát triển cùng xã hội vậy.